Thông tư số 65/2026/TT-BGDĐT ngày 11/08/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục và thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam. Phạm vi điều chỉnh bao gồm văn bằng giáo dục phổ thông, văn bằng giáo dục nghề nghiệp và văn bằng giáo dục đại học.
Đối với bằng Cử nhân do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp theo chương trình được tổ chức tại Việt Nam thông qua hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, quy định trực tiếp cần áp dụng là khoản 3 Điều 3 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT.
Đây là trường hợp thường được hiểu là cơ sở giáo dục nước ngoài liên kết với cơ sở giáo dục tại Việt Nam để tổ chức chương trình tại Việt Nam và văn bằng do phía nước ngoài cấp. Tuy nhiên, khi giải quyết thủ tục, việc xác định trường hợp cụ thể phải căn cứ vào bản chất chương trình và các điều kiện được quy định tại khoản 3 Điều 3 của Thông tư.
Công nhận bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam là gì?
Theo Điều 2 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT, công nhận văn bằng là việc xác nhận trình độ của người học được ghi trên văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục nước ngoài đặt trụ sở chính và xác định mức độ tương đương với bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam khi có cơ sở đối chiếu phù hợp.
Trong phạm vi bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam, có thể xác định các đặc điểm chính:
- Văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp;
- Cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu tại Việt Nam;
- Chương trình được thực hiện tại Việt Nam;
- Người học nhận văn bằng của cơ sở giáo dục nước ngoài;
- Văn bằng được đề nghị công nhận để sử dụng tại Việt Nam.
Điểm cần lưu ý là công nhận văn bằng không chỉ là xác minh văn bằng thật hay giả. Cơ quan có thẩm quyền còn xem xét điều kiện của cơ sở giáo dục nước ngoài, chương trình đào tạo và đặc biệt là tính hợp pháp của hoạt động giáo dục, đào tạo được thực hiện tại Việt Nam.
Điều kiện công nhận bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam
Theo khoản 3 Điều 3 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT, văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài có hoạt động giáo dục, đào tạo, liên kết giáo dục, liên kết đào tạo hoặc mở phân hiệu tại Việt Nam cấp được công nhận khi đáp ứng đồng thời hai nhóm điều kiện:
- Hoạt động giáo dục, đào tạo được triển khai hợp pháp tại Việt Nam và đáp ứng các yêu cầu của khoản 3 Điều 3;
- Văn bằng đồng thời đáp ứng quy định tại khoản 1 Điều 3.
Như vậy, đối với bằng Cử nhân theo chương trình nước ngoài liên kết với Việt Nam, việc trường nước ngoài được công nhận tại nước sở tại là cần thiết nhưng chưa phải toàn bộ điều kiện. Chương trình được tổ chức tại Việt Nam cũng phải bảo đảm các yêu cầu pháp lý tương ứng.
Điều kiện đối với cơ sở giáo dục nước ngoài cấp bằng
Khoản 1 Điều 3 quy định văn bằng phải do cơ sở giáo dục nước ngoài hoạt động hợp pháp, có chương trình giáo dục bảo đảm chất lượng cấp cho người học và đáp ứng một trong các điều kiện sau:
- Cơ sở giáo dục cấp văn bằng được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi đặt trụ sở chính cho phép đào tạo và cho phép cấp văn bằng đề nghị công nhận;
- Cơ sở giáo dục cấp văn bằng được tổ chức có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính kiểm định chất lượng và văn bằng đề nghị công nhận được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính công nhận;
- Chương trình giáo dục được tổ chức có thẩm quyền kiểm định chất lượng giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính kiểm định chất lượng hoặc được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi đặt trụ sở chính cho phép đào tạo và văn bằng đề nghị công nhận được cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi cơ sở giáo dục đặt trụ sở chính công nhận.
Cụm từ quan trọng tại khoản 1 Điều 3 là “đáp ứng một trong các điều kiện”. Vì vậy, không nên diễn giải rằng một văn bằng bắt buộc đồng thời phải đáp ứng cả ba điểm a, b và c.
Điều kiện riêng đối với chương trình nước ngoài liên kết đào tạo tại Việt Nam
Khoản 3 Điều 3 đặt ra các điều kiện riêng đối với hoạt động giáo dục, đào tạo được thực hiện tại Việt Nam.
Chương trình phải:
- Được triển khai hợp pháp tại Việt Nam;
- Đáp ứng điều kiện về phê duyệt chương trình;
- Đáp ứng điều kiện về tuyển sinh;
- Đáp ứng điều kiện về thời lượng chương trình;
- Đáp ứng các điều kiện khác theo quy định pháp luật tại thời điểm thực hiện chương trình để cấp văn bằng;
- Đồng thời đáp ứng khoản 1 Điều 3 về cơ sở giáo dục nước ngoài, chương trình và văn bằng.
Đây là điều kiện cốt lõi khi xem xét bằng Cử nhân được cấp theo chương trình nước ngoài liên kết với Việt Nam. Cơ quan có thẩm quyền không chỉ xem xét tình trạng của trường nước ngoài mà còn xem xét việc triển khai chương trình tại Việt Nam có đúng quy định pháp luật tại thời điểm chương trình được thực hiện để cấp bằng hay không.
Những yếu tố của chương trình liên kết tại Việt Nam được xem xét
Khoản 3 Điều 3 trực tiếp nhắc đến các yếu tố cần bảo đảm đối với chương trình được triển khai tại Việt Nam:
- Tính hợp pháp của hoạt động giáo dục, đào tạo;
- Việc phê duyệt chương trình;
- Điều kiện tuyển sinh;
- Thời lượng chương trình;
- Các điều kiện pháp luật khác áp dụng tại thời điểm thực hiện chương trình.
Do đó, khi đánh giá khả năng được công nhận của một bằng Cử nhân liên kết, cần xem xét chương trình theo đúng quy định pháp luật áp dụng tại thời điểm chương trình được triển khai, thay vì chỉ dựa vào quy định tại thời điểm người học nộp hồ sơ công nhận.
Hồ sơ công nhận bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam
Đối với văn bằng thuộc khoản 3 Điều 3, thành phần hồ sơ được quy định riêng tại khoản 1 Điều 5.
Hồ sơ bao gồm:
- Phiếu đề nghị công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp, theo mẫu tại Phụ lục I;
- Bản sao văn bằng hoặc xác nhận cấp văn bằng đề nghị công nhận kèm bản dịch sang tiếng Việt có chứng thực chữ ký người dịch;
- Bản sao phụ lục văn bằng, trừ các trang giới thiệu về hệ thống giáo dục của nước cấp bằng, hoặc bảng kết quả học tập, kèm bản dịch sang tiếng Việt có chứng thực chữ ký người dịch;
- Bản sao hợp lệ văn bằng, chứng chỉ có liên quan trực tiếp.
Điểm đặc biệt quan trọng là hồ sơ của trường hợp liên kết đào tạo tại Việt Nam thuộc khoản 3 Điều 3 chỉ được khoản 1 Điều 5 quy định các thành phần nêu trên. Các giấy tờ bổ sung về xuất nhập cảnh và văn bản ủy quyền xác minh tại khoản 2 Điều 5 được quy định đối với các trường hợp thuộc khoản 2, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 3.
Có cần hồ sơ xuất nhập cảnh khi học liên kết tại Việt Nam không?
Theo cấu trúc Điều 5 của Thông tư:
- Hồ sơ đối với văn bằng thuộc khoản 3 Điều 3 áp dụng khoản 1 Điều 5;
- Hồ sơ về dữ liệu xuất nhập cảnh được quy định tại khoản 2 Điều 5;
- Khoản 2 Điều 5 chỉ áp dụng đối với các văn bằng thuộc khoản 2, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 3;
- Khoản 3 Điều 3 không nằm trong danh sách này.
Vì vậy, đối với đúng trường hợp bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam thuộc khoản 3 Điều 3, Thông tư không liệt kê dữ liệu xuất nhập cảnh, thị thực hoặc giấy tờ chứng minh thời gian học ở nước ngoài trong thành phần hồ sơ bắt buộc tại khoản 1 Điều 5.
Đây là điểm khác biệt đáng chú ý giữa hồ sơ liên kết đào tạo tại Việt Nam và hồ sơ học trực tiếp hoặc học tại nước ngoài.
Có cần văn bản ủy quyền xác minh thông tin về văn bằng không?
Đối với đúng trường hợp tại khoản 3 Điều 3:
- Thành phần hồ sơ được quy định tại khoản 1 Điều 5;
- Khoản 1 không quy định văn bản ủy quyền xác minh thông tin về văn bằng;
- Văn bản này được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5;
- Khoản 2 Điều 5 áp dụng cho khoản 2, 4, 5, 6, 7 và 8 Điều 3, không bao gồm khoản 3.
Do vậy, xét đúng theo thành phần hồ sơ được Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định, hồ sơ của bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam thuộc khoản 3 Điều 3 không có văn bản ủy quyền xác minh thông tin về văn bằng trong danh mục tại khoản 1 Điều 5.
Bằng Cử nhân và bảng điểm có phải dịch sang tiếng Việt không?
Khoản 1 Điều 5 quy định:
- Bản sao văn bằng hoặc xác nhận cấp văn bằng phải kèm bản dịch sang tiếng Việt có chứng thực chữ ký người dịch;
- Phụ lục văn bằng hoặc bảng kết quả học tập phải kèm bản dịch sang tiếng Việt có chứng thực chữ ký người dịch.
Tuy nhiên, điểm b khoản 3 Điều 5 có quy định riêng khi văn bằng có ngôn ngữ bằng tiếng Anh:
- Có thể tải bản quét các thành phần hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Không cần bản dịch sang tiếng Việt;
- Hoặc tải bản chứng thực điện tử các thành phần hồ sơ nếu có.
Vì vậy, không nên áp dụng máy móc rằng mọi văn bằng nước ngoài đều bắt buộc phải có bản dịch tiếng Việt. Trường hợp văn bằng bằng tiếng Anh cần áp dụng đúng ngoại lệ tại điểm b khoản 3 Điều 5.
Trình tự, thủ tục công nhận bằng Cử nhân liên kết tại Việt Nam
Theo Điều 5, trình tự có thể hệ thống như sau:
- Bước 1: Xác định văn bằng thuộc trường hợp khoản 3 Điều 3;
- Bước 2: Chuẩn bị hồ sơ theo khoản 1 Điều 5;
- Bước 3: Cung cấp các thông tin theo Phụ lục I;
- Bước 4: Tải hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Bước 5: Thực hiện thanh toán phí theo quy định;
- Bước 6: Cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận, thẩm định và xác minh khi cần thiết;
- Bước 7: Nhận Giấy công nhận hoặc văn bản trả lời nêu rõ lý do nếu không đủ điều kiện công nhận.
Trong quá trình giải quyết, người đề nghị có trách nhiệm cung cấp đầy đủ thông tin, giấy tờ, chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của hồ sơ; đồng thời phải phối hợp với cơ quan có thẩm quyền khi cần xác minh hoặc làm rõ thông tin liên quan đến văn bằng.
Cách thức nộp hồ sơ công nhận bằng Cử nhân
Theo điểm a khoản 3 Điều 5, thủ tục được thực hiện thông qua Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Người đề nghị:
- Cung cấp thông tin theo Phụ lục I;
- Tải hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Thanh toán phí theo quy định;
- Không phải nộp bản giấy hoặc bản chứng thực điện tử đối với thông tin đã có trong các cơ sở dữ liệu quốc gia.
Như vậy, phương thức thực hiện chính theo Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT là nộp hồ sơ trực tuyến trên Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Trường hợp nào chỉ cần tải bản scan hồ sơ?
Điểm b khoản 3 Điều 5 quy định người đề nghị được tải bản quét hồ sơ mà không cần chứng thực điện tử từ bản chính khi có:
- Văn bằng, bảng điểm dạng số;
- Văn bằng, bảng điểm dạng điện tử;
- Hoặc có thông tin xác thực trực tiếp được gửi từ cơ sở giáo dục cấp bằng;
- Hoặc thông tin xác thực trực tiếp được cơ quan có thẩm quyền xác thực văn bằng gửi đến cơ quan có thẩm quyền công nhận.
Trong những trường hợp này, người đề nghị tải bản quét các thành phần hồ sơ tương ứng lên Cổng Dịch vụ công quốc gia mà không cần chứng thực điện tử từ bản chính.
Trường hợp nào phải nộp bản chứng thực điện tử hoặc bản giấy?
Nếu người đề nghị không có thông tin hoặc minh chứng để xác thực trực tiếp, điểm c khoản 3 Điều 5 quy định:
- Tải bản chứng thực điện tử từ bản chính các thành phần hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Hoặc gửi bản giấy.
Do đó, hình thức tài liệu phải nộp phụ thuộc vào việc hồ sơ có khả năng được xác thực trực tiếp từ cơ sở giáo dục hoặc cơ quan có thẩm quyền hay không.
Có được nộp hồ sơ trực tiếp hoặc qua bưu chính không?
Có, nhưng Thông tư quy định trường hợp cụ thể:
- Người đề nghị không thể tải hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia;
- Nguyên nhân phải là lý do bất khả kháng;
- Khi đó có thể nộp trực tiếp;
- Hoặc gửi hồ sơ qua dịch vụ bưu chính.
Theo đúng khoản 4 Điều 5, nộp trực tiếp hoặc qua bưu chính không được quy định như một lựa chọn thông thường ngang hàng với hình thức trực tuyến, mà áp dụng khi người đề nghị không thể tải hồ sơ lên Cổng Dịch vụ công quốc gia vì lý do bất khả kháng.
Thời gian giải quyết công nhận bằng Cử nhân liên kết tại Việt Nam
Khoản 5 Điều 5 quy định hai mốc thời gian:
- 20 ngày làm việc kể từ thời điểm hồ sơ được tiếp nhận đầy đủ theo quy định;
- Không quá 30 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ nếu cần xác minh thông tin từ cơ sở giáo dục nước ngoài hoặc làm rõ thông tin liên quan đến văn bằng.
Mốc 20 ngày làm việc được tính từ thời điểm hồ sơ được tiếp nhận đầy đủ, không phải từ ngày người đề nghị bắt đầu khai hồ sơ hoặc bắt đầu tải tài liệu.
Đối với chương trình liên kết, nếu cần xác minh cơ sở giáo dục nước ngoài, cơ sở đào tạo hoặc thông tin về chương trình thì thời hạn trả kết quả có thể kéo dài nhưng không vượt quá 30 ngày làm việc theo quy định.
Cơ quan giải quyết công nhận bằng Cử nhân
Bằng Cử nhân thuộc văn bằng giáo dục đại học.
Theo khoản 1 Điều 4:
- Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo có thẩm quyền công nhận văn bằng giáo dục đại học;
- Đây cũng là cơ quan có thẩm quyền đối với văn bằng giáo dục nghề nghiệp.
Cục Quản lý chất lượng quyết định giao nhiệm vụ cho 01 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục Quản lý chất lượng thực hiện dịch vụ công về công nhận văn bằng. Dịch vụ công được thực hiện theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại bộ phận một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia.
Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ công nhận văn bằng không phụ thuộc vào địa giới hành chính.
Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra chương trình liên kết như thế nào?
Cơ quan công nhận phải dựa vào các nguồn thông tin chính thức để thẩm định hồ sơ.
Các nguồn gồm:
- Cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước ngoài;
- Tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục được cơ quan có thẩm quyền nước ngoài công nhận hoặc cho phép hoạt động;
- Trung tâm thông tin quốc gia về học thuật và công nhận văn bằng hoặc nghề nghiệp;
- Cơ sở giáo dục cấp văn bằng;
- Cơ sở đào tạo;
- Các nguồn thông tin hợp pháp khác mà cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước ngoài chỉ định.
Đối với bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam, việc thẩm định còn gắn với điều kiện tại khoản 3 Điều 3 về tính hợp pháp của hoạt động giáo dục, phê duyệt chương trình, tuyển sinh, thời lượng và các điều kiện pháp luật khác tại thời điểm thực hiện chương trình.
Trách nhiệm của cơ sở thực hiện chương trình liên kết đào tạo
Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT quy định riêng trách nhiệm của cơ sở giáo dục thực hiện chương trình hợp tác, liên kết cấp văn bằng nước ngoài.
Cơ sở giáo dục phải cung cấp theo từng khóa đào tạo:
- Quyết định cấp phép, gia hạn, điều chỉnh;
- Đề án hoặc thỏa thuận liên kết đào tạo;
- Xác nhận đã thực hiện chương trình theo quyết định cấp phép và quy định hiện hành;
- Danh sách người học tốt nghiệp theo từng khóa;
- Các thông tin cần làm rõ liên quan đến chương trình liên kết khi cơ quan công nhận văn bằng yêu cầu.
Quy định này đặc biệt quan trọng đối với trường hợp nước ngoài liên kết với Việt Nam, vì cơ quan giải quyết có thể kiểm tra không chỉ hồ sơ cá nhân của người có bằng mà còn thông tin pháp lý của chính chương trình liên kết và từng khóa đào tạo.
Kết quả công nhận bằng Cử nhân liên kết đào tạo tại Việt Nam
Nếu đủ điều kiện, kết quả được ghi trên Giấy công nhận văn bằng.
Giấy công nhận có thể được thể hiện dưới dạng:
- Văn bản giấy;
- Văn bản điện tử;
- Văn bản số;
- Các hình thức này có giá trị như nhau.
Kết quả công nhận được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng. Thông tin tra cứu từ cơ sở dữ liệu hoặc hiển thị trên ứng dụng VNeID có giá trị xác minh thay cho việc cơ quan có thẩm quyền công nhận văn bằng xác minh bằng văn bản. Cơ sở dữ liệu này được kết nối với VNeID theo lộ trình.
Nếu không xác định được mức tương đương thì xử lý thế nào?
Thông tư dự liệu trường hợp văn bằng đủ điều kiện công nhận nhưng không xác định được đầy đủ mức độ tương đương.
Cụ thể:
- Nếu văn bằng đủ điều kiện công nhận nhưng thời gian đào tạo không tương thích với trình độ đào tạo của Việt Nam;
- Hoặc không xác định được mức độ tương đương với các bậc trình độ trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam;
- Giấy công nhận sẽ cung cấp thông tin liên quan đến văn bằng theo hệ thống giáo dục của nước cấp bằng.
Điều này có nghĩa là đủ điều kiện công nhận không phải lúc nào cũng đồng nghĩa với việc Giấy công nhận nhất thiết ghi một mức tương đương cụ thể trong Khung trình độ quốc gia Việt Nam.
Trường hợp bằng Cử nhân không được công nhận
Cơ quan có thẩm quyền phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do trong hai trường hợp:
- Văn bằng không đủ điều kiện công nhận theo Điều 3;
- Quá thời hạn tại khoản 5 Điều 5 nhưng không đủ căn cứ xác minh thông tin liên quan để công nhận văn bằng.
Đối với chương trình liên kết tại Việt Nam, một trong những vấn đề đặc biệt cần quan tâm là liệu chương trình có được triển khai hợp pháp, đáp ứng điều kiện phê duyệt, tuyển sinh, thời lượng và các điều kiện pháp luật khác tại thời điểm thực hiện hay không.
Giấy công nhận văn bằng có thể bị hủy bỏ hoặc cấp lại không?
Có. Khoản 5 Điều 6 quy định:
- Giấy công nhận bị hủy bỏ nếu phát hiện văn bằng được cấp không hợp pháp;
- Giấy công nhận bị hủy bỏ nếu hồ sơ đề nghị công nhận không trung thực;
- Giấy công nhận được cấp lại nếu thông tin ghi trên giấy có sai sót;
- Giấy công nhận cũng được cấp lại khi có lỗi kỹ thuật khác.
Cơ quan có thẩm quyền phải ban hành quyết định hủy bỏ hoặc cấp lại và nêu rõ lý do. Quyết định cấp lại phải thể hiện việc Giấy công nhận mới thay thế Giấy công nhận đã được ban hành.
Mẫu Phiếu đề nghị công nhận bằng Cử nhân
Người đề nghị sử dụng Mẫu Phiếu đề nghị công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp tại Phụ lục I của Thông tư.
Phiếu gồm:
- Thông tin người có văn bằng;
- Thông tin văn bằng;
- Minh chứng xác thực văn bằng;
- Nội dung cam đoan của người đề nghị.
Phần thông tin cá nhân gồm:
- Họ và tên;
- Ngày sinh;
- Giới tính;
- Số định danh cá nhân;
- Thẻ căn cước/hộ chiếu;
- Ngày cấp, nơi cấp;
- Địa chỉ liên hệ;
- Số điện thoại;
- Email.
Cách khai thông tin về chương trình liên kết trên Phiếu đề nghị
Phần II của Phiếu đề nghị yêu cầu khai khá chi tiết về văn bằng.
Các nội dung gồm:
- Trình độ đào tạo;
- Tên cơ sở cấp văn bằng;
- Tên cơ sở thực hiện đào tạo nếu khác với cơ sở cấp văn bằng;
- Ngày cấp văn bằng;
- Phương thức/hình thức đào tạo;
- Thời gian đào tạo;
- Lĩnh vực/ngành/chuyên ngành đào tạo nếu có.
Đối với trường hợp nước ngoài liên kết đào tạo tại Việt Nam, đặc biệt cần chú ý hai mục “Tên cơ sở thực hiện đào tạo (nếu khác với cơ sở cấp văn bằng)” và “Phương thức/Hình thức đào tạo”. Mẫu Phụ lục I trực tiếp đưa ra cách thể hiện như “trực tiếp tại nước ngoài, liên kết tại…, trực tuyến tại…, trực tuyến kết hợp trực tiếp tại…”.
Minh chứng xác thực văn bằng trong mẫu hồ sơ
Phần III của Phiếu đề nghị dành cho minh chứng xác thực.
Có thể kê khai:
- Đường dẫn trang điện tử có tên người có văn bằng;
- Link luận án;
- Các minh chứng xác thực khác.
Người đề nghị phải cam đoan thông tin đã khai là đúng sự thật và chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật nếu sai. Nếu khai biểu mẫu điện tử trên Cổng Dịch vụ công quốc gia thì không yêu cầu chữ ký.
Mẫu Giấy công nhận bằng Cử nhân sau khi được chấp thuận
Kết quả sử dụng Mẫu Giấy công nhận tại Phụ lục II.
Giấy công nhận thể hiện các nội dung như:
- Họ tên và ngày sinh của người có văn bằng;
- Tên cơ sở giáo dục nước ngoài cấp bằng và nước nơi cơ sở đặt trụ sở chính;
- Năm cấp văn bằng;
- Cơ sở thực hiện đào tạo nếu khác với cơ sở cấp bằng;
- Tên văn bằng;
- Thời gian đào tạo hoặc số tín chỉ;
- Phương thức đào tạo;
- Nhận xét;
- Địa chỉ cổng thông tin điện tử để kiểm tra;
- Mã tham chiếu, mã QR nếu có;
- Số vào sổ cấp Giấy công nhận.
Đáng chú ý đối với chương trình liên kết, hướng dẫn của Phụ lục II có nội dung riêng về việc ghi tên cơ sở giáo dục thực hiện đào tạo nếu khác với cơ sở cấp văn bằng.
Có trường hợp được miễn thủ tục công nhận bằng Cử nhân không?
Khoản 4 Điều 6 quy định hai nhóm văn bằng được miễn thực hiện thủ tục công nhận:
- Văn bằng thuộc phạm vi áp dụng của Hiệp định, Thỏa thuận công nhận lẫn nhau về văn bằng hoặc Điều ước quốc tế liên quan đến công nhận văn bằng mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập;
- Văn bằng của cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người đi học bằng ngân sách nhà nước được Bộ Giáo dục và Đào tạo cử đi học và tiếp nhận về nước.
Tuy nhiên, việc miễn thủ tục công nhận không bao gồm việc kiểm tra, xác minh tính hợp pháp và hợp lệ của văn bằng. Cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân tiếp nhận văn bằng vẫn có trách nhiệm kiểm tra, xác minh khi cần thiết.
Những điểm cần kiểm tra trước khi nộp hồ sơ công nhận
Đối với bằng Cử nhân do nước ngoài cấp theo chương trình liên kết tại Việt Nam, nên kiểm tra:
- Cơ sở giáo dục nước ngoài nào là đơn vị cấp bằng;
- Cơ sở nào trực tiếp thực hiện đào tạo tại Việt Nam;
- Chương trình được triển khai tại Việt Nam có hợp pháp hay không;
- Điều kiện phê duyệt chương trình có được đáp ứng;
- Tuyển sinh có phù hợp quy định;
- Thời lượng chương trình có phù hợp;
- Các điều kiện pháp luật khác tại thời điểm thực hiện chương trình có được đáp ứng;
- Cơ sở cấp bằng và văn bằng có đáp ứng khoản 1 Điều 3;
- Văn bằng, phụ lục văn bằng hoặc bảng điểm đã đầy đủ;
- Có minh chứng xác thực văn bằng hay không;
- Thông tin trên Phiếu đề nghị có thống nhất với hồ sơ đào tạo hay không.
Nhóm văn bằng này cần đặc biệt chú trọng tính hợp pháp của chương trình liên kết tại Việt Nam, bởi đây là điều kiện được khoản 3 Điều 3 đặt ra trực tiếp.
Tóm lược tổng kết về công nhận bằng đại học liên kết đào tạo tại Việt Nam
Đối với bằng Cử nhân do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp theo chương trình liên kết đào tạo tại Việt Nam, điều kiện quan trọng nhất là văn bằng phải đồng thời đáp ứng khoản 1 và khoản 3 Điều 3 Thông tư 65/2026/TT-BGDĐT.
Cụ thể:
- Cơ sở giáo dục nước ngoài, chương trình và văn bằng phải đáp ứng một trong các điều kiện tại khoản 1 Điều 3;
- Hoạt động giáo dục, đào tạo tại Việt Nam phải được triển khai hợp pháp;
- Phải đáp ứng điều kiện về phê duyệt chương trình, tuyển sinh, thời lượng chương trình và các điều kiện pháp luật khác tại thời điểm thực hiện chương trình để cấp bằng.
Về hồ sơ, trường hợp này áp dụng khoản 1 Điều 5, gồm Phiếu đề nghị, văn bằng hoặc xác nhận cấp văn bằng, phụ lục văn bằng hoặc bảng kết quả học tập và văn bằng, chứng chỉ liên quan trực tiếp. Không nên áp dụng nhầm nhóm hồ sơ xuất nhập cảnh tại khoản 2 Điều 5 vốn dành cho các trường hợp khác được khoản này liệt kê.
Thủ tục chủ yếu được thực hiện trên Cổng Dịch vụ công quốc gia. Thời hạn giải quyết là 20 ngày làm việc kể từ thời điểm hồ sơ được tiếp nhận đầy đủ, hoặc không quá 30 ngày làm việc nếu cần xác minh, làm rõ thông tin. Thẩm quyền công nhận bằng Cử nhân thuộc Cục trưởng Cục Quản lý chất lượng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Khi đủ điều kiện, người đề nghị được cấp Giấy công nhận văn bằng dưới dạng văn bản giấy, văn bản điện tử hoặc văn bản số và các hình thức này có giá trị như nhau. Kết quả đồng thời được cập nhật vào cơ sở dữ liệu về công nhận văn bằng theo quy định. Để được tư vấn công nhận bằng đại học liên kết đào tạo tại Việt Nam gọi ngay hotline: 0983 15 89 79/ 093 678 4560.

